English日本語Tiếng Việt

Phát huy lợi thế của mỗi địa phương
Hậu Giang là địa phương có lợi thế về nông nghiệp với nhiều loại nông sản nổi tiếng, như cam xoàn, bưởi da xanh, quýt đường, xoài cát Hòa Lộc… Tuy nhiên, những sản phẩm này vẫn chưa có thị trường tiêu thụ ổn định với số lượng nhiều, giá trị từ sản phẩm mà người ND hưởng được chưa cao. Nguyên nhân là do quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, năng suất và chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường.

hoi tim “loi thoat” cho nong san dac trung hinh anh 1Khóm Cầu Đúc là sản phẩm đặc trưng của xã Hỏa Tiến (TP.Vị Thanh), có thương hiệu từ lâu. Ảnh: Chúc Ly

Nhằm giúp nhà nông thoát khỏi tình trạng này, Hội ND tỉnh Hậu Giang đang hình thành mô hình đột phá - xây dựng sản phẩm đặc trưng ở mỗi địa phương.
Ông Châu Minh Tiến cho rằng: “Sản phẩm đặc trưng đạt yêu cầu phải là những sản phẩm nhân rộng sản xuất được, tiêu thụ được, mang được hiệu quả kinh tế và dần tạo được thương hiệu hàng hóa, khóm Cầu Đúc và quýt đường Long Trị là một ví dụ. Khi hình thành được vùng nguyên liệu lớn thì người mua sẽ dễ dàng tiếp cận thông qua những tổ hợp tác, đồng thời việc chuyển giao khoa học kỹ thuật, thực hiện các quy trình VietGAP cũng thuận tiện hơn”.

Phối hợp nhịp nhàng, linh động
Theo định hướng của Hội ND tỉnh, việc hình thành sản phẩm đặc trưng này không bó hẹp trong một đơn vị hành chính cứng nhắc mà các địa phương có thể linh động. Từ những xã có được sản phẩm đặc trưng có thể nhân rộng ra các xã lân cận, nơi có điều kiện tương tự.

 Hiện nay, Hội ND tỉnh đang định hướng xây dựng vùng sản xuất mãng cầu xiêm ở xã Hòa Mỹ liên kết với xã Bình Thành (huyện Phụng Hiệp); cam xoàn ở xã Phương Bình (Phụng Hiệp); mô hình trồng tiêu ở các xã Vị Bình, Vị Thanh (Vị Thủy); xoài cát Hòa Lộc ở thị trấn Bảy Ngàn, xã Tân Hòa (Châu Thành A); mô hình nhãn Ido ở xã Thạnh Hòa; chanh không hạt tại xã Đông Thạnh (Châu Thành); cam sành ở xã Đại Thành (thị xã Ngã Bảy),…

Nói về cách làm cụ thể, ông Tiến cho biết thêm: “Trước mắt, sẽ cho các địa phương khảo sát số hộ trồng loại cây đó tại địa bàn, giao Hội ND tại đó thành lập tổ hội nghề nghiệp. Tiếp đến là tiến hành chuyển giao khoa học kỹ thuật, sau đó giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm. Về mặt tiêu thụ sản phẩm, Hội ND tỉnh cùng chính quyền địa phương các cấp sẽ hỗ trợ thêm”.
Ông Võ Văn Triệu – Chủ tịch Hội ND xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, chia sẻ: Hiện tại địa phương đang có một tổ hợp tác trồng tiêu với 12 thành viên và có thêm khoảng 10 hộ lân cận đang muốn xin vào tổ. Tổ hợp tác đã tập hợp những ND sản xuất cùng một ngành nghề nhằm dễ dàng hỗ trợ họ về mặt kỹ thuật cũng như hướng dẫn sản xuất, tiêu thụ. Trong tương lai đây sẽ là một mô hình có nhiều triển vọng, xã cũng đang đề nghị lên huyện để được đăng ký thương hiệu riêng.
“Tại một địa phương sẽ có nhiều sản phẩm được ND sản xuất cùng lúc, vấn đề là phải lựa chọn ra một sản phẩm có tính hiệu quả nhất để định hướng bà con tập trung sản xuất tại vùng đất của mình” – ông Nguyễn Thành Quyến – Phó Chủ tịch Hội ND huyện Phụng Hiệp nêu ý kiến.
Hiện Tỉnh hội đã có biên bản ghi nhớ với một số viện, trường trong khu vực, hướng đến trong tương lai sẽ sử dụng những cây, con giống tại những nơi này để cung cấp cho bà con.
Cũng theo ông Tiến, việc hình thành sản phẩm đặc trưng ở mỗi địa phương là việc làm khó khăn và mang tính lâu dài. Trong thời gian tới, Tỉnh hội sẽ có hướng dẫn thêm đến các địa phương, biên soạn những tài liệu thật cụ thể, súc tích để gửi xuống các Hội ND xã, giúp họ định hình được quy trình, bước đi, thống nhất về nhận thức.

Tin tức liên quan:

Mô hình trồng lúa “3 giảm 3 tăng”: Thích ứng biến đổi khí hậu, hiệu quả cao

Không chỉ nổi tiếng là vùng có sản lượng lúa chất lượng cao lớn, tỉnh Sóc Trăng còn có những mô hình giúp cho nhà nông tiếp cận được kỹ thuật mới, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Trong đó, tiêu biểu là mô hình áp dụng “3 giảm 3 tăng” và kỹ thuật trồng lúa SRI.

Hiệu quả rõ rệt

Mô hình được áp dụng với diện tích 80ha, sản xuất lúa RVT trong vụ đông xuân, có 65 hộ tại khóm Tân Chánh A, khóm 3, phường 2 và khóm Vĩnh Tiền, phường 3 (thị xã Ngã Năm) tham gia, do Trung tâm Khuyến nông quốc gia đầu tư. Theo đó, sau 3 tháng sản xuất lúa theo quy trình hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, nông dân đã thấy rõ sự khác biệt giữa sản xuất lúa thông thường với cách làm mới này.

Ông Nguyễn Văn Hoanh ngụ khóm Tân Chánh A, phường 2, đánh giá: “Nếu người nông dân áp dụng đúng với những yêu cầu kỹ thuật đã được hướng dẫn, thì so với làm lúa thông thường, mô hình sản xuất lúa SRI hiệu quả hơn nhiều. Cái lợi trước mắt là lúa ít bị sâu bệnh, tiết kiệm được chi phí sản xuất, sản phẩm đạt chất lượng nên được doanh nghiệp bao tiêu với giá tương đối cao, nông dân có lời nhiều hơn”.

mo hinh trong lua “3 giam 3 tang”: thich ung bien doi khi hau, dem lai hieu qua cao hinh anh 1

Áp dụng phương pháp cấy bằng máy với lượng giống chỉ còn 50kg/ha. Ảnh: CHÚC LY

Còn ông Hà Văn Giai ( phường 3, thị xã Ngã Năm) thì cho rằng: “Do lượng phân, thuốc bón giảm hơn so với cách làm thông thường nên chi phí được tiết giảm rất nhiều, tiết kiệm khoảng 300.000 đồng/công. Hơn nữa, với cách sản xuất lúa áp dụng 3 giảm 3 tăng và kỹ thuật trồng lúa SRI, năng suất đạt rất cao”.

Theo thống kê của ngành chức năng, thì với mô hình sản xuất này, lượng thuốc BVTV giảm còn gần 30% so với sản xuất thông thường, đặc biệt cho năng suất cao hơn từ 7 - 10%, các hộ tham gia mô hình còn được doanh nghiệp hợp đồng bao tiêu lúa với giá 6.000 đồng/kg, cao hơn giá thị trường từ 700 – 1.000 đồng/kg.

Nhân rộng cho nông dân

 " Mô hình ứng dụng gói giải pháp 3 giảm, 3 tăng. Đó là giảm giống, giảm lượng phân bón hóa học và giảm thuốc bảo vệ thực vật. Giảm giống áp dụng phương pháp cấy bằng máy với lượng giống chỉ còn 50kg/ha, giúp đồng ruộng hạn chế cỏ dại đầu vụ và quản lý ốc bươu vàng dễ hơn so với sạ lan”.
Ông Võ Quốc Trung-Trưởng phòng Kỹ thuật, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Sóc Trăng

Theo Trạm khuyến nông thị xã Ngã Năm, mô hình áp dụng quản lý nước theo ướt khô xen kẽ, 3 giảm 3 tăng và phương pháp cấy bằng máy phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu ở Ngã Năm. Thời gian tới, ngành nông nghiệp thị xã tiếp tục nhân rộng mô hình để bà con có điều kiện tìm hiểu và áp dụng.

“Mô hình còn thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt là tình trạng xâm nhập mặn hiện nay nhờ vào chế độ quản lý nước theo phương pháp ướt khô xen kẽ và phòng trừ dịch bệnh theo phương pháp IPM”–ông Nguyễn Minh Trí – Trưởng trạm khuyến nông thị xã Ngã Năm nhận định.

Những năm gần đây, thị xã Ngã Năm là vùng sản xuất lúa chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, rõ nét nhất là tình trạng nắng hạn và xâm nhập mặn kéo dài. Do đó, mô hình sản xuất lúa này phù hợp với điều kiện thời tiết biến đổi phức tạp, đồng thời cũng thể hiện được sự liên kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp và là tiền đề cho việc thực hiện hiệu quả đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở địa phương.

Hơn 1,9 triệu hội viên, ND tham gia BHXH tự nguyện và BHYT

Ủy viên T.Ư Đảng, Chủ tịch Ban chấp hành T.Ư Hội NDVN Lại Xuân Môn, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thị Minh cùng chủ trù hội nghị.
Giai đoạn 2012 – 2015, Hội NDVN đã phối hợp BHXH Việt Nam tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến các chính sách, pháp luật về BHXH, bảo hiển y tế (BHYT) với nhiều hình thức đa dạng như hội thi, hội thảo, tọa đàm, đối thoại với hội viên, ND; xây dựng và duy trì các mô hình “BHYT toàn dân” và mô hình “BHXH tự nguyện”...

hon 1,9 trieu hoi vien, nd tham gia bhxh tu nguyen va bhyt hinh anh 1Chủ tịch BCH T.Ư Hội NDVN Lại Xuân Môn (trái) và Tổng giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thị Minh ký chương trình phối hợp giai đoạn 2016 - 2020.   Ảnh: Đức Thịnh

Trong 4 năm (2012 – 2105) các cấp Hội ND đã xây dựng 369 mô hình vận động hội viên, ND tham gia BHXH tự nguyện; xây dựng 1.435 mô hình vận động hội viên, ND tham gia BHYT. Đến nay, các cấp Hội đã vận động được 38.424 người tham gia BHXH tự nguyện và 1.899.966 người tham gia BHYT; thành lập được hơn 1.500 đại lý thu BHXH do Hội ND quản lý, góp phần vào thực hiện thành công lộ trình BHYT toàn dân.
Chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2020, có 90% hộ hội viên, ND trở lên có thẻ BHYT và 10% lao động nông thôn tham gia BHXH tự nguyện.
Phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch Lại Xuân Môn đánh giá cao những kết quả đạt được trong chương trình phối hợp giữa Hội NDVN và BHXH Việt Nam trong 4 năm qua. “Thời gian tới, các cấp Hội cần tập trung tuyên truyền để hội viên, ND hiểu rõ hơn về quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia BHXH, BHYT. Cần coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Hội”-Chủ tịch Lại Xuân Môn nhấn mạnh.
Dịp này, lãnh đạo T.Ư Hội NDVN đã trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giai cấp NDVN” cho 4 cá nhân là cán bộ BHXH Việt Nam. Lãnh đạo BHXH Việt Nam cũng trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp BHXH” cho 4 cá nhân là cán bộ thuộc T.Ư Hội NDVN.

Việt Nam kêu gọi Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn chương trình giám sát cá da trơn

viet nam keu goi my do bo hoan toan chuong trinh giam sat ca da tron hinh anh 1Người Phát ngôn Lê Hải Bình.

Trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam về việc ngày 25.5.2016, Thượng viện Hoa Kỳ bỏ phiếu thông qua dự thảo Nghị quyết lưỡng viện số 28 đồng ý bãi bỏ Chương trình giám sát cá da trơn của Bộ Nông nghiệp Mỹ, ngày 31.5.2016, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình cho biết:
“Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ lo ngại về Chương trình giám sát cá da trơn của Bộ Nông nghiệp Mỹ. Đây là chương trình gây tốn kém không cần thiết và có thể trở thành hàng rào thương mại phi thuế quan, vi phạm quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tinh thần Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Chúng tôi đánh giá cao việc Thượng viện Mỹ thông qua dự thảo Nghị quyết bãi bỏ chương trình trên. Đây là bước đi đúng đắn, góp phần thể hiện cam kết của Mỹ đối với các cơ chế thương mại song phương và đa phương với Việt Nam, phù hợp với bước phát triển mới của quan hệ Đối tác toàn diện Việt – Mỹ thể hiện rõ qua chuyến thăm Việt Nam mới đây của Tổng thống Mỹ  Barack Obama.
Việt Nam kêu gọi Hạ viện và Chính quyền Mỹ sớm có các bước đi tiếp theo để dỡ bỏ hoàn toàn chương trình này. Chúng tôi luôn nỗ lực hợp tác với các nước, trong đó có Mỹ, bảo đảm an toàn và chất lượng sản phẩm cá da trơn xuất khẩu của Việt Nam, vốn đã đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn quốc tế".

408 triệu USD xây cầu, sửa đường nông thôn

Sẽ xây mới, xây lại hơn 2.000 cây cầu
Dự án “Xây dựng cầu dân sinh và quản lý tài sản đường địa phương” nhằm thực hiện Chương trình xây dựng cầu dân sinh đảm bảo an toàn giao thông vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2014-2020, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho vùng nông thôn, miền núi và vùng dân tộc. Dự án có trị giá 385 triệu USD, thực hiện theo phương thức giải ngân dựa trên kết quả, sẽ hỗ trợ cải tạo đường giao thông nông thôn, giúp giảm chi phí đi lại tại các tỉnh trong dự án, đem lại lợi ích cho trên 2,5 triệu người.
Trong đó, 135 triệu USD sẽ giúp cải tạo 676km đường giao thông và duy tu 48.578km đường nông thôn khác tại 14 tỉnh. 245,5 triệu USD được sử dụng cho việc xây mới và xây lại 2.174 cầu dân sinh tại 50 tỉnh, thành phố. Ngoài ra, hợp phần cũng cung cấp 4,5 triệu USD hỗ trợ kỹ thuật cho công tác triển khai thực hiện dự án.

408 trieu usd xay cau, sua duong nong thon hinh anh 1Cầu treo xã Lý Bôn - Đức Hạnh (huyện Bảo Lâm, Cao Bằng) được xây dựng từ năm 2002 hiện đã xuống cấp. Ảnh: I.T.

Dự án được thực hiện từ năm 2016 - 2021 với tổng mức đầu tư 408,93 triệu USD, trong đó vốn vay Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) thuộc nhóm WB 385 triệu USD, vốn đối ứng phía Việt Nam tương đương 23,93 triệu USD.

Tránh nơi thừa, nơi thiếu
Chủ trương xây dựng cầu treo dân sinh thời gian qua đã đáp ứng phần nào nhu cầu đi lại của người dân tại vùng sâu, xa, vùng dân tộc thiểu số. Đây là chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, tuy nhiên, làm thế nào để tránh tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, đảm bảo tính minh bạch trong đầu tư… luôn là vấn đề được các cấp, ngành và địa phương đặc biệt quan tâm.

  2.174 cây cầu sẽ được xây dựng tại các tỉnh, thành phố: Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hòa Bình, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Hải Dương, Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bình Phước, Trà Vinh, Đồng Nai, Vĩnh Long, Hậu Giang, Kiên Giang, An Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Tây Ninh, Cần Thơ, Đồng Tháp và Bến Tre.

Theo đó, để được đầu tư, xây dựng cầu dân sinh phải đảm bảo ít nhất 3 tiêu chí, đó là: Số người lưu thông qua tuyến đường phải đạt 50%. Bị chia cắt trong mùa mưa lũ từ 15 ngày trở lên. Đạt được 50% số người đi qua nhưng trên tuyến đường đó chưa có cầu, chưa có đường kết nối…
Được biết vừa qua, Tổng cục  Đường  bộ đã tổ chức 16 đoàn đi rà soát trên  50 tỉnh, thành phố trên cả nước, cho thấy: Một số địa phương lập báo cáo chưa sát thực tế, chưa phù hợp với tiêu chí của Bộ GTVT. Một vài nơi chỉ báo cáo lập dự án đầu tư mà chưa khảo sát kỹ tính cấp bách của người dân, có nơi muốn xây cầu dân sinh chỉ vì phát triển quỹ đất. Theo đó, các vị trí chưa phù hợp sẽ không được xây dựng cầu nhằm đảm bảo tất cả các công trình đều phù hợp với tiêu chí có ý nghĩa sát thực với cuộc sống dân sinh, xã hội.
Tổng cục Đường bộ cũng nêu ví dụ: Lạng  Sơn đề xuất xây 63 chiếc cầu dân sinh trong giai đoạn 2. Tuy nhiên chỉ qua một buổi kiểm tra, rà soát, cho thấy 2 vị trí xây cầu treo chưa phù hợp, chưa đạt tiêu chí của Bộ GTVT đề ra, đặc biệt chưa thể hiện được tính cấp bách cuộc sống.
Theo Tổng cục Đường bộ, nhu cầu xây cầu dân sinh của người dân tại 50 tỉnh thành lên tới 10.000 cầu nhưng trong giai đoạn 2 của dự án có 2.500 cây cầu được xây dựng, nên việc đầu tư cũng như quy trình xác định vị trí xây dựng cầu dân sinh phải rất chặt chẽ, đảm bảo tính minh bạch. Tổng cục sẽ tiến hành rà soát tất cả các vị trí được đề xuất xây cầu để việc triển khai xây dựng nhanh chóng hơn, thay vì thực hiện trong 5 năm, Tổng cục sẽ thực hiện trong 3 năm. Dự kiến chương trình bắt đầu thực hiện năm 2017 và kết thúc năm 2019.

Nợ đọng NTM gần 10.000 tỷ: Sức ép từ cổng làng to, trụ sở lớn

Thưa ông, Báo cáo giám sát về việc thực hiện Chương trình vừa được công bố mới đây cho thấy, nợ của NTM đã lên tới gần 10.000 tỷ đồng, ông đánh giá gì về món nợ lớn này?
- Đúng là món nợ của nông thôn mới không hề nhỏ, tuy mới chỉ thống kê báo cáo của 35/41 tỉnh, thành phố đã lên tới 8.600 tỷ đồng, nếu thống kê hết các tỉnh trên toàn quốc, chắc khoản nợ cũng phải hơn 10.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, tôi cho rằng khoản nợ này cũng cần phải làm rõ, thông qua nợ người dân được hưởng thụ, không phải phá sản chỗ này, chỗ kia và để lại hậu quả liên đới về mặt xã hội thì vẫn còn trong tầm kiểm soát. Trường hợp nếu các khoản nợ là do một số địa phương “vung tay quá trán” thì cần phải xử lý nghiêm cán bộ khi triển khai chương trình này. Xét một cách tổng thể, khoản nợ 10.000 tỷ đồng chia bình quân cho tổng số xã trên toàn quốc thì mỗi xã cũng chỉ nợ khoảng 1 tỷ nên theo tôi vẫn ở trong tầm kiểm soát được.

no dong ntm gan 10.000 ty: suc ep tu cong lang to, tru so lon hinh anh 1Xây dựng đường nông thôn tại xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, Hà Giang. ảnh: I.T

Một số ý kiến cho rằng, các khoản nợ này là do các địa phương đã cố chạy theo thành tích, không đánh giá đúng năng lực hiện có nên mới dẫn đến nợ khó trả, quan điểm của ông như thế nào?
- Theo tôi phải xét một cách toàn diện hơn vì khoản nợ của NTM nhưng báo cáo là có nhiều nguyên nhân và động cơ, nếu chỉ đổ cho chạy theo thành tích không thì chưa hoàn toàn xác đáng. Thứ nhất, để triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, từ trung ương xuống tỉnh, huyện, xã đều có nghị quyết các cấp nên các cấp cũng tổ chức làm rất quyết liệt. Khi duyệt chương trình, cam kết của trung ương, tỉnh, huyện, xã là 40% ngân sách các cấp nhưng triển khai thực tế thì kinh phí này lại không đủ. Công với một số nguồn lực có nhưng còn giải ngân chậm. Trong khi, các xã thực hiện xây dựng NTM đã dựa vào nguồn lực 40% ngân sách các cấp nên có những khoản cũng chưa giải ngân dẫn tới nợ đọng của các địa phương. Tôi có theo dõi giám sát một số địa phương cho thấy, nhiều địa phương chủ yếu nợ xi măng và nợ doanh nghiệp triển khai thi công là chính.

Việc “vung tay quá trán” xây trụ sở, nhà văn hóa, cổng làng hàng chục tỷ đồng… hậu quả là gì, thưa ông?
- Đúng là có cả tình trạng nợ khi xây dựng các công trình do làm lớn quá mức, cổng làng, nhà văn hóa quá lớn so với quy mô cho phép. Từ đó dẫn tới nợ, chưa kể xây công trình lớn có “chấm phẩy” của các cán bộ. Tuy nhiên, cũng may trong giám sát vừa qua cũng chưa phát hiện nhiều tình trạng này.

no dong ntm gan 10.000 ty: suc ep tu cong lang to, tru so lon hinh anh 2

Tuy nhiên, báo cáo tại một số địa phương cho thấy, tình trạng nợ NTM đúng là khá lớn, có xã ở Nghệ An, Hà Tĩnh… nợ tới hơn 20 tỷ đồng, thậm chí, có một số xã nợ tới hơn 30 tỷ đồng là một con số lớn quá. Trong khi, sức dân huy động đã “kiệt” nên chưa thể trả nợ ngay được. Hậu quả của việc để xảy ra nợ trong quá trình xây dựng NTM có thể làm cho ông chủ tịch xã tốt, bí thư tốt trở thành “con nợ”. Ngoài ra, việc nợ đọng cũng sẽ để lại hậu quả xã hội khác như khiến cho một số doanh nghiệp bị “chết oan” vì khoản nợ dẫn tới phá sản. Bản thân các doanh nghiệp ở địa phương chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, họ tin tưởng vào các quyết định của UBND tỉnh nên mới vay vốn ngân hàng để thực hiện các dự án xây dựng công trình…Theo tôi, yếu kém là do ở chỉ đạo, nếu tỉnh nào thực sự chỉ đạo được sẽ không thể để nợ tới con số như thế.

Theo ông, thời gian tới cần có điều chỉnh như thế nào để Chương trình đạt hiệu quả?
- Vấn đề nợ đọng NTM thực tế  Ban chỉ đạo trung ương đã nhận thấy từ rất sớm nên chỉ sau 2 năm thực hiện đã chỉ đạo cả trong cuộc họp và cả bằng văn bản của Phó Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, không cuộc họp nào của trung ương là không nhắc vấn đề này nhưng sự chấp hành và chỉ đạo ở tỉnh xuống huyện, xã ở một số nơi đã vượt qua tầm kiểm soát nên mới có việc nợ đọng này. Tôi cho rằng trong thời gian tới khó phát sinh nợ nhiều nhưng vẫn không thể chủ quan và trong quá trình kiểm tra kiểm soát từ trung ương xuống tỉnh cần phải giám sát kỹ vấn đề này. Phải nói rõ cho các địa phương biết “lo bò mà làm chuồng”, “lựa cơm mà gắp mắm”. Cái gì làm quá với nhu cầu sử dụng của người dân gây lãng phí là không được và phải xử lý nghiêm cán bộ đứng đầu. Đặc biệt, khi triển khai cần phải cam kết nguồn lực từ trung ương xuống tỉnh, huyện, xã thật rõ ràng thì tôi tin sẽ khắc phục được tình trạng nợ đọng NTM trong thời gian tới.

Mục tiêu của Chương trình là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nhưng nếu sử dụng vốn không hiệu quả thì liệu có đạt được?
- Đúng là việc nâng cao đời sống vật chất, tình thần cho người dân là mục tiêu quan trọng nhất và phải kiên trì lâu dài nhất. Do đó, cần phải sử dụng đồng vốn hiệu quả, phải để cho dân lựa chọn các công trình cơ sở hạ tầng, các mô hình sản xuất thiết thực… Thực tế, tỷ lệ nợ đọng do xây dựng NTM chưa phải lớn tính trên tổng ngân sách nhà nước được phân bổ, nhưng trường hợp nợ cao lại rơi vào 11 tỉnh phía Bắc, đều là những tỉnh khó khăn. Tôi rất đồng tình với quan điểm của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng, “Nếu không có những giải pháp bền vững để bảo vệ thành quả của Chương trình xây dựng NTM thì lại thành nông thôn cũ”. Thực tế, các xã đạt được NTM là tiêu chí của giai đoạn này thôi, đời sống của người dân lại tiếp tục nâng cao nên tiêu chí cũng phải xây dựng nâng cao lên trong thời gian tới./.

Xin cảm ơn ông!

ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC

Chúng tôi tự hào vì là một đối tác chiến lược