English日本語Tiếng Việt

Trồng 2.500 cây đu đủ tiêu chuẩn sạch, lãi 500 triệu đồng/năm

Vài năm trở lại đây, nhiều nông dân trên địa bàn xã Bình Giã, huyện Châu Đức (Bà Rịa-Vũng Tàu) đã xây dựng mô hình trông đu đủ sạch, đạt tiêu chuẩn GlobalGAP. Nhờ đó, các hộ trồng đủ đủ thu lãi lớn, lên đến 500 triệu đồng/ha. Điển hình là hộ gia đình ông Ngô Quốc Chiến, ấp Vĩnh An.

Anh Ngô Quốc Chiến (ấp Vĩnh An, xã Bình Giã, huyện Châu Đức) có kinh nghiệm trồng đu đủ trong nhiều năm. Loại cây này dễ trồng, năng suất cao nhưng giá cả khá bấp bênh nên thu nhập không cao.

Nông dân BR-VT đang chăm sóc vườn đu đủ sạch.

Đến năm 2015, anh Chiến và một số hộ trồng đu đủ trên địa bàn xã Bình Giã kết nối được với Công ty TNHH Nông sản A Cóng để trồng đu đủ sạch theo hướng VietGAP. Theo đó, toàn bộ sản phẩm sẽ được doanh nghiệp thu mua và vận chuyển ra tiêu thụ ở thị trường phía Bắc.

Theo anh Chiến, trước đây, giá đu đủ khá bấp bênh, cao nhất được khoảng 7-8 ngàn đồng/kg, đôi khi giảm mạnh, chỉ còn 1-2 ngàn đồng/kg. Còn khi trồng đu đủ sạch, doanh nghiệp cam kết thu mua với giá khá cao, 10 ngàn đồng/kg. Do đó, nông dân chỉ cần tập trung sản xuất nông sản chất lượng chứ không phải lo lắng nhiều về giá cả như trước đây.

“Để được công nhận chuẩn GlobalGAP và công ty chấp nhận thu mua, chúng tôi phải đạt gần 300 tiêu chí. Cụ thể, các hộ tham gia mô hình trồng đu đủ sạch phải tuân thủ quy trình giống nhau về cách sử dụng phân bón và thuốc BVTV, chỉ sử dụng các loại nằm trong danh mục được cho phép, sau khi bón phân cần có thời gian cách ly đủ lâu mới được xuất sản phẩm ra thị trường…”, ông Sơn thông tin.Ông Nguyễn Hùng Sơn (ấp Vĩnh An, xã Bình Giã, huyện Châu Đức), cũng là một trong những hộ tham gia mô hình trồng đu đủ sạch cho biết, để được công nhận GlobalGAP, nông dân phải tuân thủ nhiều quy trình kỹ thuật khắt khe, trong đó quan trọng nhất là việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV.

Cũng theo ông Sơn, trồng đu đủ sạch không khó, lại  được bao tiêu nên không lo về giá cả. Tuy nhiên, đu đủ thường mắc một số bệnh về virus khiến cây chết rất nhanh và không thể chữa trị. Do đó, khi trồng cần chú ý các biện pháp phòng bệnh như làm đất sạch sẽ trước vụ, phun xịt thuốc đúng hàm lượng, thời điểm. Tốt nhất là nên canh tác luân canh đu đủ với các loại cây ngắn ngày khác chứ không nên làm 2 vụ đu đủ liên tiếp trên cùng một diện tích đất…

Những vườn đu đủ trĩu quả đang mang lại lợi nhuận cao cho nông dân BR-VT.

Theo bà Nguyễn Ngọc Phương Nga, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Giã, huyện Châu Đức, việc một số doanh nghiệp liên kết được với nông dân trồng đu đủ sạch, đạt tiêu chuẩn GlobalGAP đã đem lại hướng đi mới, nâng cao hiệu quả cho loại cây này tại địa phương.

Bà Nga cho biết, hiện chính quyền xã đã vận động xong và đang hoàn thiện hồ sơ xây dựng tổ hợp tác sản xuất đu đủ sạch với gần 10 thành viên. Các hội viên sẽ liên kết, giúp đỡ nhau trong kỹ thuật sản xuất đu đủ sạch đạt chuẩn. "Việc thành lập tổ hợp tác cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng diện tích và số lượng người trồng đu đủ sạch tại địa phương, giúp sản phẩm này từng bước xây dựng thương hiệu trên thị trường, hướng đến xuất khẩu ra nước ngoài", bà Nga nói.

Khéo tay, bắt cây ra quả trái vụ, thủ phủ cam xoàn Lai Vung hốt bạc

Hiện, một số nhà vườn chuyên trồng cam xoàn ở huyện Lai Vung (Đồng Tháp) đang bước vào thu hoạch cam xoàn mùa nghịch trúng đậm giá, rất phấn khởi.

Theo đó, những ngày qua, thương lái đến tận các vườn cam xoàn ở Lai Vung – một trong những vùng trồng cam xoàn lớn nhất miền Tây – để thu mua cam có giá từ 26.000 - 32.000 đồng/kg. Với giá bán này, nhà vườn lãi khoảng 80 triệu đồng/công cam.

Nhà vườn Nguyễn Thanh Phong (ngụ xã Tân Hòa, huyện Lai Vung), cho biết cam xoàn mùa nghịch rất khó xử lý, đòi hỏi nhà vườn phải có kinh nghiệm, kỹ thuật cao trong việc xử lý cho cây ra hoa và đậu trái.

"Mùa nghịch, cây cam cho trái ít, chăm sóc cực hơn nhưng bù lại giá cao hơn. Có khi, giá cao gấp đôi so với mùa thuận nên lợi nhuận sẽ cao hơn", ông Phong phấn khởi nói.

Sau đây là hình ảnh về không khí thu hoạch cam xoàn của các nhà vườn ở thủ phủ cam xoàn:

Thu hoạch cam xoàn nghịch mùa

Cam xoàn mùa nghịch rất khó xử lý, đòi hỏi nhà vườn phải có kinh nghiệm, kỹ thuật cao trong việc xử lý cho cây ra hoa và đậu trái

Theo Nha Mân - Thành Nguyễn (Người lao động)

Loài nấm kỳ lạ: Chỉ mọc rộ 1 tháng, năm nào cũng sốt giá

Đây là loài nấm làm nên những món ngon, nên năm nào cũng sốt giá, nhất là đợt nấm mọc đầu mùa. Dù là nấu canh, nấu cháo, xào, kho hay nướng, nấm mối vẫn đứng vào hàng có đẳng cấp cao, mùi vị và chất lượng đều hơn hẳn các loài nấm khác.

Tháng 5 (âm lịch), những cơn mưa bắt đầu nặng hạt, nhưng hễ khi trời vừa mưa vừa nắng là dấu hiệu mùa nấm mối đã bắt đầu. Nhà nào có vườn rộng thì đi tìm kiếm. Nhà ai không có vườn thì cũng tìm ở “nhà người ta”, hay là những gốc cây cổ thụ bên đường.

Mà nấm mối cũng mọc “kỳ lắm”, bất kể nơi nào, không có địa chỉ cụ thể, khi thì gốc mít, gốc dừa, đôi khi mọc hoang ở bên đường, nhà có nền đất thì nó có thể mọc dưới giường ngủ... Nói chung, nơi nào có tổ mối là nấm mối có thể mọc lên.

Mỗi năm, nấm mối chỉ xuất hiện một đợt trong khoảng hơn một tháng, bắt đầu từ tháng 5 (âm lịch), sau những cơn mưa đầu mùa cho đến tháng 6 âm lịch, rộ nhất là thời điểm Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5). Tuy nhiên, cũng có nơi nấm mọc sớm hoặc trễ hơn do thời tiết thay đổi bất thường.

Đây là món ngon, nên năm nào cũng sốt giá, nhất là đợt nấm mọc đầu mùa. Dù là nấu canh, nấu cháo, xào, kho hay nướng, nấm mối vẫn đứng vào hàng có đẳng cấp cao, mùi vị và chất lượng đều hơn hẳn các loài nấm khác.

Theo kinh nghiệm dân gian, nấm mối xuất hiện hằng năm là do các ổ mối nằm sâu dưới đất tiết ra một chất meo, khi gặp thời tiết thích hợp meo nấm sẽ phát triển thành nấm. Do đó mới gọi là nấm mối, nấm trời cho, có giá trị dinh dưỡng rất cao.

Có thể nói, nấm mối là “nữ hoàng” của các loại nấm. Nếu ai đã một lần ăn thì sẽ cảm nhận vị ngon của loài nấm “nữ hoàng” này.

Nấm mối có vị ngọt đặc trưng, cọng nấm giòn sần sật, khi thưởng thức sẽ không thể lẫn với loại nấm nào khác. Có thể nói, đơn giản nhất là cháo nấm mối, nấm mối xào lá cách và mướp, nấm mối xào nước cốt dừa..., ai ăn một lần cũng đều nhớ mãi cái mùi vị thơm ngon, ngọt...

Tôi còn nhớ, lúc còn nhỏ, nhà có nhiều ổ nấm mối ngoài vườn, sáng sớm ba mẹ thường dậy đi nhổ nấm về, vì đây là thời điểm cọng nấm vừa tách khỏi mặt đất, cọng nào cọng nấy “mập mạp, ú mềm”.

Ở quê, nhà nào cũng có vài cây lá cách, mấy dây bầu, dây mướp, mẹ thường hái đọt lá cách non, hái vài trái mướp xào chung với nấm. Bữa cơm sáng thật đơn giản nhưng ngon đến nao lòng.

Thiên nhiên đã tặng cho người dân miền Tây loại đặc sản không thể trồng, mà chỉ có thể tìm thấy trong tự nhiên. Ngày nay, những khu vườn xưa không còn, thay vào đó là những vườn bưởi, thanh long bạt ngàn, nên sự hiện diện của nấm mối ngày càng hiếm.Ở quê, vào mùa này, nếu nhà nào thu hoạch được nhiều nấm thì có thể dùng nấm mối làm nhưn đổ bánh xèo hoặc ướp muối ớt rồi quấn lá cách đem nướng trên bếp than hồng, chấm với nước mắm chua cay..., dù người khó tính cũng phải thừa nhận nấm mối nướng là món ngon “ăn hoài không đã”.

Giá một ký nấm mối hiện dao động từ 600.000 - 1.000.000 đồng tùy vào chất lượng nấm búp hay nấm đã nở. Một người bạn của tôi cho biết: “Mỗi năm, vào mùa nấm mối, anh thường hay mua một ít để cả nhà cùng ăn, cho mọi người biết được vị ngon của nấm và để nhớ về một thời thơ ấu được tận tay đi hái và được ăn nấm từ trong vườn nhà - một cảm giác thú vị, không bao giờ quên”.

Có thể nói, đối với nhiều người, nấm mối chỉ đơn thuần là một loại nấm nhiều dinh dưỡng, thơm ngon, nhưng riêng tôi và những bạn bè cùng trang lứa thì nấm mối là tuổi thơ, là hoài niệm đi đến suốt cuộc đời.

Theo Hồng Lê (Báo Ấp Bắc)

Thu hàng tỷ đồng nhờ trồng mít Thái da xanh xen cây chanh

Gia đình anh Lê Văn Hậu, thôn 2B, xã Ea H'leo, huyện Ea H'leo (Đắk Lắk) đã thu hàng tỷ đồng mỗi năm nhờ mô hình trồng mít Thái da xanh siêu sớm xen cây chanh. Vùng đất cằn cỗi thuộc các xã Ea H’leo, Ea Tir, huyện Ea H'leo một thời từng được ví như vùng đất “chết” bởi kén cây trồng. Bằng quyết tâm biến “sỏi đá cũng thành cơm”, nhiều nông dân như anh Hậu đã làm giàu "hái" được vàng trên chính mảnh đất này.

Gia đình anh Lê Văn Hậu có 2 ha đất, trước đây chủ yếu trồng cây khoai mì và cây bắp, nhưng hiệu quả kinh tế không cao, nhiều khi còn mất mùa liên miên vì khô hạn. Qua tìm hiểu trên phương tiện truyền thông và đi học hỏi kinh nghiệm thực tế tại các nhà vườn ở miền Tây, anh Hậu nhận thấy cây mít Thái da xanh siêu sớm và cây chanh là 2 giống cây trồng có khả năng chịu hạn tốt, thích hợp trồng trên đất cát, ra trái liên tục nhiều đợt trong năm.

Mô hình trồng mít Thái da xanh siêu sớm xen chanh của anh Lê Văn Hậu (thôn 2B, xã Ea H’leo, huyện Ea H'leo) cho thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm.

Vì vậy, năm 2013 anh quyết định đầu tư cải tạo lại toàn bộ 2 ha đất để trồng 1.000 cây mít Thái da xanh siêu sớm, xen 600 cây chanh. Nhờ quá trình chăm sóc đúng kỹ thuật, đến nay vườn mít Thái của gia đình đã cho thu ổn định đến năm thứ 3. Mỗi tháng anh Hậu có 3 đợt thu hái trái mít, một cây mít Thái cho năng suất từ 50 - 60kg/tháng, với giá bán mít Thái như hiện nay trung bình từ 30.000 - 40.000 đồng/kg. Riêng cây chanh, hằng năm gia đình anh thu hoạch trên 40 tấn, với giá bán ổn định tại vườn từ 10.000 - 20.000 đồng/kg. Sau khi trừ chi phí, mỗi năm cho gia đình anh Hậu thu nhập hàng tỷ đồng từ vườn mít da xanh siêu sớm xen canh cây chanh.

Ea Tir là xã đặc biệt khó khăn với địa hình chủ yếu là đất pha sỏi đá, cằn cỗi. Trước đây, đời sống của người dân đa phần dựa vào việc đi làm thuê; có hộ trồng được cà phê, hoa màu nhưng năng suất rất thấp do điều kiện đất đai khắc nghiệt.

Nhận thấy sả là loại cây dễ trồng, khả năng chịu hạn cao thích hợp với nhiều loại đất nên từ năm 2011, một số người dân đã ra tỉnh Tuyên Quang tìm hiểu và mua giống cây sả về trồng thử nghiệm. Sau thời gian trồng thực tế đem lại hiệu quả, các hộ dân trong xã đã mạnh dạn chuyển đổi diện tích cây trồng sang trồng sả.

Một trong những người tiên phong và đang thành công với mô hình này là ông Hứa Văn Mộc (thôn 1). Ông Mộc cho biết, trồng cây sả chi phí đầu tư rất ít, trồng một lần, cho thu 4 - 5 năm và không bị mất mùa như các cây trồng khác.

Quy trình trồng sả rất đơn giản, khi bắt đầu trồng chỉ cần lên liếp hoặc xẻ rãnh đặt sả giống vào, các vụ tiếp theo cứ làm sạch cỏ xung quanh là cây sả phát triển tốt. Trung bình cứ 40 ngày cho thu hoạch một lần bằng cách cắt một lượt lá sả. Từ 1 sào trồng sả ban đầu, hiện ông Mộc đã canh tác 3ha sả.

Cùng với đó, ông duy trì trồng 1 ha sả giống và cung cấp trên 1 tấn giống mỗi năm cho người dân trong vùng với giá 26.000 đồng/kg và xây dựng được một lò sản xuất tinh dầu sả với chi phí gần 200 triệu đồng. Là một hộ kinh tế khó khăn nay ông Mộc đã vươn lên có cuộc sống khá giả với cơ ngơi khang trang.

Ông Hứa Văn Mộc (thôn 1 xã Ea Tir - huyện Ea H’leo): “Mạnh dạn đầu tư, năng động và thích ứng với diễn biến thị trường chính là những yếu tố quyết định thành công của người nông dân chúng tôi”.

Để tăng thêm thu nhập từ cây sả, gia đình chị Phùng Thị Lâm, thôn 1, xã Ea Tir đã xây dựng lò sản xuất tinh dầu sả.

Theo Chủ tịch Hội Nông dân huyện Ea H’leo Nguyễn Đình Hoạt, chuyện nhà nông làm giàu ở huyện Ea H’leo thực ra không ít, nhưng quá trình chịu khó tìm tòi, vươn lên làm giàu trên những vùng đất bạc màu, cằn cỗi của các nông hộ là tấm gương sáng về nghị lực vượt khó và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất mà nhiều người cần học hỏi.

Theo Thuỳ Linh-Hoàng Ân (Báo Đắk Lắk)

Kiếm bộn tiền nhờ trồng nho Nhật, cho 1 tấn trái/sào, bán rất chạy

Anh Huỳnh Tấn Quảng, xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) trồng 4 sào giống nho Kyoho-1 giống nho Nhật Bản. Bình quân mỗi sào nho Kyoho Nhật Bản cho năng suất 1 tấn trái. Anh Quảng cho biết, nếu trồng đúng kỹ thuật như bên Nhật Bản, giống nho này cho năng suất tới 1,5 tấn trái/sào...

Gần 10 năm nay, giống nho Kyoho của Nhật Bản đã từng bước bén rễ và phát triển trên đất Hiệp Thạnh bằng niềm đam mê và cả sự quyết tâm của anh Huỳnh Tấn Quảng.

Dẫn chúng tôi đi một vòng quanh vườn nho hơn 4 sào đang cho thu hoạch, ngắt cho chúng tôi ăn thử một chùm nho căng mọng, rồi khi thấy chúng tôi xuýt xoa vì nho rất ngon, vị chua chua ngọt ngọt rất thanh, anh Quảng cười cho biết: “Giống cây nho này do em tôi là Huỳnh Tấn Sơn mang về từ Nhật và cũng đã trồng thử nghiệm trên đất Phú Hội nhưng năng suất thấp. Vậy là tôi quyết định mang giống lên đây trồng, dễ cũng đã gần chục năm nay”.

Anh Huỳnh Tấn Quảng đang thu hoạch nho Kyoho trồng trên 4 sào đất canh tác của gia đình. Ảnh: N.Minh

Và cũng gần chục năm qua, anh Huỳnh Tấn Quảng, với sự giúp sức hết mình của em trai - anh Huỳnh Tấn Sơn, cũng đã trải qua không ít những khó khăn để cây nho Kyoho thật sự bám rễ sâu trên mảnh đất Hiệp Thạnh và cho năng suất khoảng 1 tấn/sào như hiện nay.

“Thời gian đầu khi trồng thử nghiệm giống cây này trên đất Hiệp Thạnh, cứ khoảng 100 cây thì chỉ có 10 cây là đạt chất lượng. Thêm vào đó, do chưa tìm được phân bón phù hợp, cách cắt tỉa cành, lá cũng chưa đúng nên sản lượng rất thấp, chỉ khoảng 4 - 5 tạ/sào. Sau nhiều năm loay hoay tìm tòi, thử nghiệm, chúng tôi giờ cũng đã tìm ra loại phân bón thích hợp, đó là loại phân vi sinh được nhập từ Nhật Bản về, rồi cách cắt tỉa cành lá cũng đúng kỹ thuật hơn nên 2 năm trở lại đây, sản lượng nho đã đạt được gấp đôi, khoảng 1 tấn/sào”.

Anh Quảng cũng cho hay, anh từng gặp không ít những thất bại từ lúc “bén duyên” và gắn bó với cây nho Kyoho này. Đó là những lần do thời tiết mưa nhiều, cây bị bệnh nhiều, nhưng lại không dám xịt thuốc nhiều nên năng suất thấp; Rồi ngay cả chuyện tưới nước cũng phải canh sao cho vừa, nếu dư nước, thì trái nứt, thiếu nước thì trái không căng mọng…Tuy nhiên, có trải qua những khó khăn, vất vả đó, anh em anh càng yêu thương nhau hơn và càng đoàn kết, hợp sức để theo đuổi đam mê của mình.

Giờ đây, cùng với thời gian, giống nho Kyoho với những quả to tròn, ngọt dịu đã thật sự có được chỗ đứng của riêng mình, mặc dù giá thành cao gấp nhiều lần giống nho trồng ở Phan Rang nhưng lúc nào giống nho này cũng ở tình trạng “cung cũng không đủ cầu”.

Vì vậy cho nên trong vòng 2 năm, nho Kyoho mới cho thu hoạch khoảng 3 lứa. Và điều đặc biệt là giống nho này có tuổi thọ trung bình khoảng 40 - 50 năm, tuy nhiên, để cây sinh trưởng, phát triển tốt, thì cây phải được cắt cành và cấy ghép vào một giống nho dại cũng được nhập về từ Nhật Bản.Anh Quảng cho biết thêm, từ lúc trồng cho đến khi nho Kyoho cho ra trái phải mất khoảng 2 năm. Sau lần ra trái này, sẽ cho thu hoạch trong khoảng 3 tháng rồi cây “ngủ” tiếp 3 tháng nữa. Khoảng thời gian này là khoảng thời gian để anh Quảng chăm sóc, bón phân và sau 3 tháng “ngủ đông”, khi nho “thức dậy”, công đoạn quan trọng nhất là tỉa cành cũng sẽ được tiến hành.

“Nói thật lòng là sau 10 năm quyết định trồng giống nho này, tôi thấy mình đã đi đúng hướng, vì trồng loại cây này tính ra là không hề cực nhọc, nắng hay mưa cũng có thể làm được. Và việc chăm sóc, cắt tỉa chúng cũng đem đến cho tôi sự thú vị và đam mê rất riêng. Sắp tới, tôi sẽ tiếp tục đầu tư, mở rộng trồng thêm 2 sào nữa...". Theo anh Quảng, hiện, cũng có rất nhiều người có đất, có tiền muốn hợp tác cùng anh trồng giống nho Kyoho, nhưng anh em anh Quảng chưa dám nhận lời ai, vì anh cho rằng mình vẫn đang trong thời gian tìm tòi, hoàn thiện kỹ thuật. Vì nếu thật sự trồng đúng kỹ thuật như ở Nhật Bản thì giống nho này phải cho sản lượng đạt cao hơn, khoảng 1,5 tấn/sào...

Theo Nhật Minh (Báo Lâm Đồng)

Xót xa nhìn hàng chục ha ổi nổi tiếng xứ Nghệ rụng và thối sau mưa

Hàng chục ha ổi trĩu quả giòn, thơm, ngọt ở các xã Nghĩa Sơn, Nghĩa Yên, Nghĩa Lâm, Nghĩa Khánh…. huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) chuẩn bị thu hoạch thì bất ngờ rụng vàng gốc sau đợt mưa lũ vừa qua, người trồng ổi khóc ròng, bán rẻ như cho.

Ổi Nghĩa Đàn nổi tiếng có màu trắng, giòn, thơm, ngọt là một trong những thương hiệu nổi tiếng cả nước nói chung và miền đất xứ Nghệ nói riêng.

Ổi Nghĩa Đàn trắng, giòn, thơm, ngọt nên được rất nhiều người tiêu dùng lựa chọn

Do ảnh hưởng đợt mưa lũ kéo dài nhiều tuần qua đã gây ngập úng trên địa bàn toàn tỉnh, hàng chục ha ổi ở xã Nghĩa Sơn, Nghĩa Yên, Nghĩa Lâm… huyện Nghĩa Đàn đang đến mùa thu hoạch thì bị ngâm nước nhiều ngày, nước rút những cây ổi trĩu qủa bất ngờ rơi rụng và thối hỏng.

Chị Nguyễn Thị Thủy (xã Nghĩa Khánh) có vườn ổi trên 500 gốc buồn bã nói: “Ổi Nghĩa Đàn nổi tiếng giòn, ngọt nên rất được người dân lựa chọn. Mọi năm thời tiết thuận lợi, ổi ra hoa nhiều, trĩu quả, quả đẹp nên bán rất được giá. Giá bán tại vườn từ 15.000 – 20.000 đồng/kg. Nhưng năm nay, vườn ổi chuẩn bị thu hoạch thì gặp mưa lũ, cây ổi ngâm nước nên rụng hết. Ước tính thiệt hại vụ ổi năm nay 20.000 – 25.000 đồng”.

Hàng chục ha ổi ở Nghĩa Đàn rụng và thối hỏng do mưa kéo dài. Ảnh: MT

Anh Lô Văn Thiệu (xã Nghĩa Lâm) trồng khoảng 5 sào ổi chia sẻ: “Thời tiết không ủng hộ thì đành chịu. Sau khi đợt mưa kéo dài vừa qua đã khiến vườn ổi nhà tôi rụng gần hết, ổi xốp và nạt nên rất khó bán, giá rất thấp chỉ 3.000 – 5.000 đồng/kg. Nhìn vườn ổi rụng mà ứa nước mắt, chỉ còn cách bán vớt vát được đồng nào hay đồng nấy, coi như vụ ổi năm nay thất thu”.

Cùng chung cảnh ngộ, bà Nguyễn Thị Huệ (xã Nghĩa Lâm) cho biết: “Thời tiết năm nay diễn biến thất thường, đang nắng nóng cực điểm, bà con gồng mình tưới nước chống hạn cho cây ổi. Bổng dưng mưa xối xả mấy tuần, gây úng nước. Gia đình tôi trồng hơn 1 sào ổi ruột hồng, vườn ổi đang trĩu quả thì rụng dần dần, ruột ổi bị xốp, nhạt nên thương lái kén chọn, ép giá thấp. Mọi năm giá 20.000 – 25.000 đồng/kg không có mà bán, năm nay chỉ bán 3.000 – 5.000 đồng/kg nhưng họ không hắm hở mua”.

Ổi rụng vàng gốc. Ảnh: MT

Theo kinh nghiệm của các hộ dân trồng ổi lâu năm, nếu tình hình thời tiết bất ổn như hiện nay thì ổi vẫn tiếp tục rụng, chất lượng ổi sẽ giảm, thương lái sẽ kén chọn và thiệt hại đối với người trồng ổi sẽ rất cao.

Bán rẻ như cho. Ảnh: MT

Trao đổi với PV Dân Việt, ông Nguyễn Thế Phương – Chủ tịch Hội Nông huyện Nghĩa Đàn cho biết: “Do đợt mưa kéo dài mấy tuần vừa qua, một số vườn ổi chuẩn bị thu hoạch trên địa bàn các xã của huyện Nghĩa Đàn bị rụng và thối hỏng, nhiều hộ trồng ổi có thiệt hại. Sau khi có thông tin, Hội Nông dân huyện cũng đã cắt cử người đến từng hộ dân để kiểm tra, thống kê, những hộ nào thiệt hại nặng, chúng tôi sẽ đề suất lên cấp trên để có phương án hỗ trợ cho người dân”.

Bỏ ngô trồng bạt ngàn bí xanh, 9X trả hết nợ mà còn dư dả tiền

Chị Hà Thị Vân, dân tộc Thái, sinh năm 1991 ở bản Ta Láng (xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La) trồng 800 gốc bí xanh trên 2.000m2 diện tích nương rẫy. Nhờ trồng bí xanh mà chị Vân đã trả hết nợ mua phân, giống trồng ngô ngày trước và lãi mỗi năm 80 triệu đồng.

Chia sẻ Dân Việt, chị Vân cho biết: “Nhiều năm trước, gia đình tôi chủ yếu trồng ngô và rau cải bắp nhưng do giá ngô, rau liên tục mất giá khiến tôi phải bù lỗ, còn nợ tiền phân và cây giống ở các đại lý. Cuộc sống của gia đình gặp rất nhiều khó khăn, chồng tôi phải đi làm cửu vạn, bốc vác ở khắp nơi để kiếm tiền...".

Chị Vân nhận thấy cây bí xanh đem lại nguồn thu nhập lớn, lại ít chi phí chăm sóc. Chị đi vay tiền anh em họ hàng mua dây thép về làm giàn bí trên 2.000 m2 diện tích nương. Tôi mua thêm đường ống dẫn nước từ khe suối gần nương về tưới tiêu cho giàn bí. Khoảng một thời gian ngắn, vườn bí của gia đình tôi đã cho thu hoạch lứa quả đầu tiên".

 Một năm chị Vân trồng được 2 vụ bí xanh, mỗi vụ lãi 40 triệu đồng.

Để giàn bí phát triển tươi tốt, chị Vân thường xuyên lên nương tưới nước đều đặn cho vườn vì bí xanh là cây trồng rất cần nước để phát triển. Chị tận dụng nguồn phân từ chuồng nuôi lợn ở nhà để bón cho vườn bí.  Vì vậy, vườn bí của gia đình chị luôn được nhiều thương lái ưa chuộng và bán được với giá cao.

 Nhờ trồng bí xanh, đến nay đời sống của gia đình chị Vân đã khá giả hơn.

Cách chăm sóc bí xanh rất đơn giản không cần cầu kỳ như cây ngô, cây sắn. Đến thời điểm dây bí leo lên giàn, chị Vân tiến hành đôn dây bí bằng cách khoanh dây bí quanh gốc, cắt tỉa bớt lá chân, lấp gốc bằng lượng phân chuồng, cách làm này giúp cho rễ bí phát triển, dây bí cho trái bền và chắc. Lúc dây leo lên giàn, chị Vân điều chỉnh dây phân bố cho đồng đều, chị lược bỏ những nhánh nhỏ, nhánh sâu bệnh cho giàn được thông thoáng, góp phần tăng đậu quả và đạt chất  lượng tốt nhất.

Nhờ cách chăm sóc tốt, vườn bí xanh của gia đình chị Vân luôn sinh trưởng tốt.

 Cứ đến vụ thu hoạch bí, các tiểu thương đến tận vườn bí xanh chị Vân thu mua, bởi vậy mà chị không lo ế hàng.

Chị Vân chia sẻ: “Tôi trồng bí cho thu lời cao hơn và ít chi phí chăm sóc so với trồng ngô trước đây. Mỗi một năm tôi trồng được 2 vụ; vụ đầu tiên trồng từ tháng 2 đến tháng 8. Vụ thứ 2 trồng từ tháng 8 đến cuối tháng 12, mỗi vụ cho thu nhập 40 triệu đồng.Từ khi  chuyển sang trồng bí xanh, tôi đã  trả được hết nợ và có chút  vốn liếng dành tiết kiệm. Trung bình 1 năm tôi thu lãi từ bí xanh khoảng 80 triệu đồng. Tôi dự định năm tới sẽ cải tạo đất nương rẫy trồng thêm bí xanh để nâng cao nguồn thu nhập hơn nữa cho gia đình”

Dầm mưa, chống vắt, mới đào được củ sen trắng ngần dưới lớp bùn sâu

Những người nông dân ở xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc (Lạng Sơn) phải dầm mình dưới mưa, vất vả trong bùn lầy đào những củ sen đang "giấu mình" dưới lớp bùn sâu để kịp mang ra các phiên chợ chiều nơi góc phố.

Tháng 7, 8 là thời điểm người dân ở xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc đi đào củ sen ngoài đồng. Công việc mới nhìn thoạt tưởng chừng đơn giản nhưng để có được củ sen trắng muốt, người nông dân phải đổ mồ hôi nước mắt, vất vả mưu sinh, cực nhọc..

Vợ chồng anh Khắm, chị Nhung (Bản Lành, xã Hoà Cư) dầm mưa đào sen dưới ruộng. Theo lời chị Lộc Thị Nhung, cứ vào tầm tháng 7 hàng năm, vợ chồng anh chị lại tất bật, chân lấm tay bùn thu hoạch củ sen. Nghề này vất vả nhưng vì phải mưu sinh nên vợ chồng chị  đành phải đeo bám.

 Vừa mò mẫm ngụp tay trong đống bùn tìm củ sen anh Khắm (chồng chị Nhung) vừa kể chuyện: "Ruộng này so với nhiều ruộng khác là nông hơn rồi, ngập đến gần đầu gối thôi. Nhiều ruộng khác bùn sâu người xuống đã ngập đến bắp chân, đến hông rất khó di chuyển. Nhiều người mới tập làm chưa quen, cứ hụp lặn mãi mấy lượt mới móc được 1-2 củ, hai con mắt gặp nước bùn bẩn đỏ hoe".

Theo anh Khắm, phải dùng mọt chiếc xẻng tự chế để đào, đồng thời vừa đào vừa dùng gáo để tát cho cạn nước, mới nhìn thấy củ sen lộ ra. Nhiều khi nhìn thấy củ rồi nhưng phải mất khá nhiều thời gian sau mới lôi được lên, vì nếu lôi nhanh gãy củ, bùn chui vào trong, đoạn đó phải cắt bỏ đi.

Sen sẽ được đào có chọn lọc, người thu chỉ đào lấy những củ to, còn những củ bé sẽ được giữ lại dưới lớp bùn sâu để làm giống cho vụ sau.

Khổ nhất là mấy chị em phụ nữ, mỗi lần đi móc củ sen tóc phải quấn chặt trên đầu, áo, quần bó sát nếu không cẩn thận lũ đỉa mén chui vào hút máu. Chị Nhung cho biết: “Không chỉ có vậy, chị em tôi còn bị muỗi, dĩn cắn ngứa ngáy khắp người. Ngâm mình trong nước bùn dơ dễ “dính” bệnh ghẻ lở ngoài da, bệnh phụ nữ…”.

Với kinh nghiệm hơn 4 năm làm nghề trồng và đào củ sen chị Nhung chia sẻ: Cái nghề này nhìn thì thấy có vẻ đơn giản, chỉ cần vài động tác “khom xuống, đào đào rồi móc lên” nhưng không phải ai cũng làm được. Người đào củ sen phải tinh mắt mới biết được củ sen non hay già và phải biết nhẹ nhàng, khéo tay, nếu không sẽ bị dập, bị gãy bùn bám vào trong, chẳng ai mua.

Trung bình một người đào được 15-20kg/ buổi với giá bán trung bình 25.000 -30.000 đồng tính ra người dân ở đây cũng kiếm được 500.000 -600.000 đồng một ngày. Sau khi đào về, rửa sạch sẽ, phải cắt bỏ bớt hai đầu và các nhánh lởm chởm để sao cho đẹp mắt.

Những củ sen to tròn trắng giòn được rửa sạch để chuẩn bị xuống phố.

"Nhiều hôm mang xuống chợ phố bán, người mua cứ kì kèo giá cả. Họ nói củ này trồng dễ mà đào cũng dễ, chỉ cần nhổ là lên mà sao bán đắt vậy. Họ đâu biết phải vất vả ngụp lặn trong bùn để bới, để dò từng củ đâu", chị Nhung chia sẻ.

Mặc dù trời mưa tầm tã nhưng các bà, các chị vẫn dầm mình đứng bán củ sen. Củ sen từ ẩn mình dưới lớp bùn được "khai quật", rửa sạch và cuối cùng được đưa xuống phố trong diện mạo đẹp đẽ nhất.

Hiện tại gia đình anh Khắm có hơn 4 sào ruộng trồng sen, trung bình một sào chị thu khoảng hơn 1.5 - 3 tạ củ. Gia đình anh chị đã bắt đầu thu hoạch từ giữa tháng 7 đến nay vẫn chưa được 1/2 diện tích. Chị Nhung cho biết đầu mùa chị bán với giá 60.000 - 70.000 đồng/kg, nhưng hiện tại bắt đầu vào mùa, nhiều nhà cùng mang ra phố bán nên giá lại giảm xuống còn 25.000 -30.000 đồng/kg. "Đầu mùa bao giờ giá cũng đắt gấp đôi, nhưng tháng rồi mưa quá không đi đào được. Giống sen này chỉ cho thu củ, cũng có bán hoa nhưng một sào chỉ cho khoảng 20 bông. Trồng cây này năng suất gấp nhiều lần trồng lúa nhưng thu hoạch rất vất vả" -chị Nhung cho biết.

Vất vả là vậy nhưng nhờ cây sen mà mỗi năm gia gia đình chị Nhung, anh Khắm và các hộ dân thôn Bản Lành, các bản lân cận đều có một khoản thu nhập từ 20 triệu đồng đến vài chục triệu đồng từ nghề trồng sen bán củ.

Không làm thầy giáo, về quê trồng cây dại lại có tiền tỷ mỗi năm

Không giống như các bạn học cùng khóa khác, sau khi có tấm bằng Cao đẳng trong tay, anh Bùi Quý Hợi, 36 tuổi, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy (Hòa Bình) lại quyết định về quê lập nghiệp bằng mô hình trồng cà gai leo-loại cây vốn mọc dại, nhờ đó mà mỗi năm gia đình anh Hợi bỏ túi cả tỷ đồng.

Đến xã Bảo Hiệu hỏi thăm nhà anh Hợi ai cũng biết, bởi anh là người không chỉ làm kinh tế giỏi trong xã mà còn là người tạo ra mô hình điểm về trồng cà gai leo để cho bà con trong vùng học hỏi. Hiện trang trại trồng loài cây dại này của anh Hợi đang trồng hơn 10 ha, mỗi năm bán ra thị trường hàng vài chục tấn cà gai khô và thu về cả tỷ đồng.

Chia sẻ với Dân Việt, anh Hợi cho biết, từ hồi còn nhỏ anh đã rất đam mê về nghề trồng trọt nên sau khi khi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình vào năm 2008 thì anh quyết định về quê "nghịch đất trồng cây".

Anh Bùi Quý Hợi (bên trái) đang dẫn khách thăm quan mô hình trồng cây cà gai lep của mình.

Những năm đầu tiên anh chủ yếu làm cây giống các loại để bán cho bà con trong vùng, nhưng do vất vả mà lại cho hiệu quả kinh tế không cao nên anh nghỉ, đi tìm các mô hình trồng trọt khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong một lần tình cờ biết đến mô hình trồng gai leo cho hiệu quả kinh tế cao, anh liền đi thăm quan để học hỏi và cũng như tìm hiểu về loại cây này.

Qua quá trình tìm hiểu, anh nhận thấy đây là một loại cây dược liệu rất phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai ở địa phương mình và đầu ra khá ổn định nên anh Hợi quyết định khởi nghiệp với loại cây mọc dại này.

Cà gai leo là một giống cây dây leo, có tác dụng rất tốt đối với các bệnh liên quan đến gan.

Khởi nghiệp từ 50 vạn cây cà gai leo làm vốn, nhận thấy loại cây này dễ trồng và cho hiệu quả kinh tế cao, anh tiếp tục đầu tư để mở rộng mô hình. Sau hơn 2 năm, đến nay quy mô trồng cà gia leo của gia đình anh Hợi đã lên tới hơn hơn 10 ha.

Trung bình mỗi năm, gia đình anh Hợi xuất bán ra thị trường gần 40 tấn cà gia khô, được bán với giá trên dưới 40 ngàn đồng/1kg. Sau khi trừ hết chi phí, mỗi năm gia đình anh Hợi lãi gần 1 tỷ đồng.

Anh Bùi Qúy Hợi cho biết, cây cà gai leo là loại cây dại, thường mọc hoang ở các bờ bụi...Đây là một loại cây có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe con người, đặc biệt là về các bệnh liên quan đến gan. “Cà gai leo  là một loại cây khá dễ trồng, ít bị sâu bệnh và phát triển quanh năm. Trung bình trồng khoảng 3 tháng là có thể thu hoạch được, với 10ha thì mỗi lần thu hoạch được khoảng trên dưới 10 tấn cà gai khô” anh Hợi chia sẻ.

Nhờ trồng cà gai leo mà mỗi năm gia đình anh Hợi bỏ túi gần 1 tỷ đồng.

Theo anh Hợi, hiện anh đang trồng cà gai bằng phương pháp phủ bạt nilon, nhờ cách làm này mà anh tiết kiệm được đáng kể nhân công lao động, cũng như công chăm sóc, làm cỏ. Trung bình 1 ha trồng cà gai leo, anh đầu tư hết khoảng 150 triệu đồng tiền bạt nilon và sử dụng trong một thời gian rất lâu.

Hiện trang trại  trồng cà gai leo của anh  Hợi đang tạo công ăn việc làm thường xuyên cho 5 lao động với mức lương gần 5 triệu đồng/tháng và hàng chục lao động thời vụ khác.

Về đầu ra sản phẩm, anh Huy cho biết: “Nhiều năm trở lại đây, theo nhiều nghiên cứu về cây cà gai leo cho thấy, đây là một loại cây dược liệu có rất nhiều tác dụng tốt cho gan nên việc sử dụng các sản phẩm liên quan đến cây cà gai leo ngày càng nhiều. Hiện nay, có trên 100 đại lý trên toàn quốc phân phối sản phẩm cho gia đình anh Hợi, ngoài ra gia đình cũng như liên kết với nhiều công ty dược khác nhau để ổn định cho đầu ra. Nhiều lúc gia đình không có hàng cà gai leo khô để bán”.

Cận cảnh vườn cà gai leo rộng hơn 10 ha của gia đình anh Bùi Qúy Hợi.

Nhận thấy lợi nhuận mà loại cây này đem lại, anh Hợi đã vận động các hộ trong xã nhân rộng mô hình và đồng thời thành lập Hợp tác xã Nông- Lâm nghiệp Bảo Hiệu chuyên trồng cây cà gai leo do anh làm Giám đốc. Hiện nay, Hợp tác xã trồng cây cà gai leo ở xã Bảo Hiệu có 40 thành viên tham gia, mỗi tháng cung cấp ra thị trường hàng vài chục tấn cà gai khô. Mô hình trồng cây cà gai đang góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình hội viên....

Vùng đất mà ở đây cây lê thấp tè đã ra trĩu quả

Ông Tẩn Láo Lù, thôn thôn Khu Chu Phìn I, xã Nậm Pung, huyện Bát Sát (Lào Cai) trồng 1ha lê Tai Nung. Năm nay vườn lê nhà ông bước sang tuổi thứ 2 cho quả với sản lượng khoảng 5 tấn, giá bán 30-35.000 đồng/kg tại vườn, doanh thu đạt 150 triệu đồng, lãi ròng 100 triệu đồng. Nhiều hộ ở Nậm Pung cũng có thu nhập cao từ giống lê cây còn thấp mà trãi trĩu cành này...

Xã Nậm Pung (Bát Xát) có 4 thôn, chủ yếu là người Dao và Hà Nhì sinh sống. Từ năm 2010, người dân Nậm Pung đưa giống lê Tai Nung (VH6) vào trồng. Đến nay, toàn xã có trên 80 ha lê Tai Nung, trong đó có 15 ha cây đã cho thu hoạch quả.

Ông Tẩn Lào Lù bên vườn lê Tai Nung.

Đến gia đình ông Tẩn Láo Lù, thôn Khu Chu Phìn I, xã Nậm Pung, chúng tôi thật sự bất ngờ về vườn lê Tai nung sai trĩu quả của gia đình. Ông Lù cho biết: Khi huyện có chủ trương đưa cây trồng có giá trị kinh tế cao vào canh tác, ông mạnh dạn trồng thử 1 ha cây lê Tai nung. Được sự giúp đỡ các phòng, ban chuyên môn, cán bộ Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện từ khâu trồng đến bón phân, vin cành và bọc quả, đến nay, mùa thứ 2 cây cho thu hoạch quả.

Những cành lê Tai Nung thấp tè mà sai trĩu quả. Ảnh: Hoàng Trường-Phạm Thúy.

Ông Tẩn Láo Lù ước tính, vụ này, vườn lê Tai Nung cho thu 5 tấn quả, với giá bán 30.000 - 35.000 đồng/kg loại 1 tại vườn, gia đình ông thu về khoảng 150 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi gần 100 triệu đồng. Ông khẳng định: Trồng lê Tai Nung hiệu quả kinh tế cao hơn trồng các loại cây khác.

Hiện nay, huyện Bát Xát đã trồng được 200 ha lê Tai Nung VH6, tập trung ở các xã vùng cao Y Tý, Pa Cheo và Nậm Pung. Năm 2018, gần 80 ha cho thu hoạch quả, năng suất đạt từ 10-15 tấn quả/ha.

Cán bộ kỹ thuật hỗ trợ đoàn viên thanh niên xã Nậm Pung cách chăm sóc lê Tai Nung. Ảnh: Hoàng Trường-Phạm Thúy.

Ông Lưu Trọng Dương, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: Nếu chăm sóc để vườn cây phát triển tốt, cùng với kỹ thuật vin cành, bón phân đúng liều lượng thì lê Tai Nung cho năng suất sẽ đạt từ 15-18 tấn/ha. Chất lượng quả lê cao với hương thơm, vị ngọt thanh mát đặc trưng. Diện tích lê cho quả hiện nay gần như đã có khách hàng đặt thu mua hết.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khi diện tích lê Tai Nung trên địa bàn huyện được mở rộng, cần có kế hoạch đầu ra ổn định cho sản phẩm. Rất mong có sự quan tâm của các cấp, các ngành, các đơn vị, doanh nghiệp cùng vào cuộc, tạo điều kiện cho nông dân vùng cao phát triển và mở rộng diện tích trồng lê Tai nung, góp phần giảm nghèo bền vững.

Theo Tâm Đào (Báo Lào Cai)

ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC

Chúng Tôi Tự Hào Là Một Đối Tác Tin Cậy